Liên kết web
Giới thiệu

Bình Hải là một xã đồng bằng ven biển nằm về phía Đông Nam của huyện Thăng Bình, cách trung tâm thị trấn Hà Lam khoảng 15 km về hướng Đông Nam. Phía Đông giáp biển Đông; phía Bắc giáp xã Bình Minh, Bình Đào; phía Nam giáp xã Bình Nam; phía Tây giáp xã Bình Sa. Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 1 251,24 ha, dân số 7 173người; mật độ dân số 468 người/ km2.                                                     


Ảnh: UBND xã Bình Hải

Địa hình đồi cát trắng chiếm khoảng 27 % diện tích tự nhiên trãi dài dọc tư Bắc xuống Nam; đồng bằng nhỏ hẹp thấp trũng uốn mình theo dòng sông Trường Giang với lưu lượng khá lớn thường xuyên gây lũ lụt, ngập úng, sói mòn vào mùa mưa.

Bình Hải nằm trong vùng khí hậu vùng ven biển miền Trung, mang khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô; với 2 hướng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam, Đông Nam. Nhiệt độ trung bình năm 25,8oC. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 80%. Lượng mưa trung bình 2.015mm, nhưng phấn bố không đều, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão thường gây ra ngập úng, sói lở, đổ gẫy ở vùng ven sông, ven biển.

Người dân nơi đây định cư dọc theo ven biển và 2 bên bờ sông Trường Giang, lập thành các Xóm, các Vạn để thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản. Trong xã có hơn 80 % hộ gia đình làm nghề chài lưới, quanh năm bám biển, giữ thuyền. Các thành viên trong gia đình tuỳ theo tuổi, giới tính, trình độ, kỹ năng, sở thích,.. mà làm việc, đóng góp vào thu nhập của gia đình bằng nhiều loại ngành nghề khác nhau. Phần lớn những thanh niên, trung niên khỏe mạnh có sức khoẻ để theo thuyền ra biển xa, đánh bắt nhiều hải sản như cá, tôm, cua, mực,v.v. nhiều thành viên khác ở nhiều gia đình còn làm các nghề thủ công, chăn nuôi, trồng trọt và buôn bán nhỏ,v.v. Các nghề truyền thống chủ yếu như giả ruốc, giả cào, mành chốt, mành mở, lưới quát, lưới cản, lờ mực, câu ống, câu giàn,… đã sớm phát triển ở nơi đây. Những thanh niên, đàn ông có sức khoẻ và thạo nghề đi biển từ khi tuổi mới lên mười. Nắng, gió và sóng biển đã nhộm những chàng trai trong Làng thành những “Lực sĩ da đen, tóc vàng”. Đặc điểm khí hậu và nghề nghiệp đã hình thành nên cho người dân nơi đây những đặc tính “ăn to, nói lớn”, “ăn cục, nói hòn”, “ăn sóng nói gió”.

Nhìn chung, sự đa dạng về ngành nghề của cộng đồng ngư dân nơi đây, một mặt cho thấy hệ sinh thái vùng biển đã chi phối mạnh đến đời sống, phương thức mưu sinh của ngư dân. Và mặt khác, sự đa dạng các phương thức mưu sinh này từ lâu là nhân tố làm nảy sinh nơi cộng đồng ngư dân này những đặc điểm xã hội với tính chất thoáng mở và năng động rất đặc trưng. Không gian xã hội của cộng đồng ngư dân biển xã Bình Hải nói riêng và Quảng Nam nói chung đã nảy sinh và kết hợp nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Nơi đây, từ lâu đã nuôi dưỡng được nhiều các giá trị văn hóa xã hội, nảy sinh từ nền kinh tế ngư nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp và cả tiêu thủ công nghiệp rất đa dạng nhưng thống nhất.

Đến Bình Hải, người ta dễ dàng nhận thấy, rằng ngư dân vùng biển địa phương có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau trong nghề nghiệp và trong cuộc sống mưu sinh hằng ngày. Trước sự huyền bí và dữ dội của biển cả, giữa các vạn chài đã thiết lập mối quan hệ thân tình hòa hợp. Tâm thức của ngư dân địa phương luôn đề cao “đạo lý cộng đồng” để gắn kết tình cảm giữa những con người cùng chung một phương thức sinh tồn. Có thể nói, quan hệ xã hội ba chiều Người – Biển –Thần được cộng đồng ngư dân vùng này trân trọng bảo lưu và nuôi dưỡng. Sự hoà hợp, thích nghi và gìn giữ những điều kiêng kị giữa người với người, người với thế giới tự nhiên và siêu nhiên để có được điềm lành như là cách tốt nhất trong quá trình mưu sinh mà ngư dân Quảng Nam nói chung luôn chú tâm thực hiện.
                                                                                      

Biển và những sự kiện liên quan đến cuộc mưu sinh của con người trên biển luôn hiện hữu trong tâm thức ngư dân suốt chu kỳ một đời người. Giá trị văn hoá tinh thần đặc trưng của ngư dân địa phương được lắng đọng trong nhiều tín ngưỡng dân gian đi kèm với các lễ hội đặc trưng. Người dân đã nuôi dưỡng và thực hành nhiều lễ hội gắn chặt với tín ngưỡng dân gian như Lễ cúng Lăng, cúng Xóm, diễn ra vào tháng giêng âm lịch hằng năm.

Nét đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian và văn hóa lễ hội của ngư dân vùng biển là tín ngưỡng thờ Cá Ông (cá Voi). Thờ cá Ông là tín ngưỡng dân gian đã được nghi thức hóa, cung đình hóa từ thời Vua Gia Long. Ở mỗi làng chài ven biển miền Trung, Cá Ông được tôn xưng với các tước hiệu như Nam Hải đại tướng quân, Đại Càn Nam Hải đại tướng quân, Đông Hải Ngọc Lân tôn thần,.v.v. hay các danh xưng gần gủi như Ông Cậu, Ông Khơi, Ông Lộng, Ông Chuông,.v.v. Ngư dân vùng này luôn tin rằng cá Voi đã cứu người, cứu thuyền khi gặp sóng bão nơi biển khơi. Với kinh nghiệm dân gian, nơi nào cá Voi xuất hiện thì nơi đó có nhiều cá để đánh bắt. Cá voi từ lâu đã trở thành một vị phúc thần nơi biển cả, là ân nhân của người đi biển. Với ngư dân, cá Ông không chỉ là một vị thần biển mà còn là vị thần bản mệnh liên quan đến sự hưng thịnh của vạn chài. Từ niềm tín kính như vậy, hằng năm lễ tế cá Ông là một trong những nghi lễ quan trọng nhất, đồng thời đó cũng là ngày hội của cư dân vạn chài. Phần tế lễ và các nghi thức diễn ra hàng năm, kéo dài 2-3 ngày bắt đầu từ Lễ Vọng, lễ Nghinh Ông, Lễ tế Cô hồn, Lễ Chánh Tế, Lễ xây chầu Bả Trạo.

Lễ vọng được thực hiện từ sáng sớm của ngày tế lễ đầu tiên, với mục đích cúng giỗ và cầu xin điềm lành cho vạn chài, tránh được điều dữ trong năm. Lễ Nghinh Ông, gồm lễ và hội rước Đông Hải Ngọc Lân Tôn thần về chứng lễ cúng Nam Hải Ngọc Lân tôn thần. Phần lễ này phức tạp hơn, người chánh tế cùng học trò lễ, đội Bả Trạo, đội cờ, ban nhạc lễ, ban chinh cổ và các trai niên xuống thuyền ghe có đèn hoa, kèn trống rộn ràng, cùng với đoàn ghe bầu, ghe thúng của đông đảo ngư dân ra khơi nghinh Ông. Ra đến điểm đã định, ông chánh tế với trang phục đặc trưng, làm lễ dâng hương, rượu để khấn vái mời thần Đông Hải Ngọc Lân Tôn thần về chứng lễ. Lễ tế cô hồn, diễn ra tại sân lăng.

Lễ vật cúng gồm có cháo, khoai, bánh, oản, trầu, rượu, hương, vàng bạc và áo giấy. Cũng như lễ vọng, chánh lễ dâng rượu và đọc văn tế rất uy nghiêm và hùng hồn. Văn tế cúng cô hồn của ngư dân luôn thể hiện tình cảm sâu đậm giữa người sống và người đã chết.

Lễ chánh tế, thường chỉ được tiến hành vào lúc nửa đêm về sáng. Lễ vật cúng gồm có như hương, hoa đăng, trà, trái cây, thịt heo,.v.v cũng như trên, chánh lễ cũng thực hiện các nghi thức dâng hương, rượu và đọc văn tế.

Lễ xây chầu Bả Trạo, đây là nghi lễ cũng rất quan trọng, cố định mở đầu cho buổi hát thờ/hát thiêng trong lễ hội nghinh ông của ngư dân Quảng Nam. Người xây chầu là vị chánh tế, trống chầu là trống đại, màu đỏ, mặt quay về hướng Đông có phủ khăn điều. Hát Bả Trạo là bộ phận không thể thiếu của nghi lễ, một loại hình diễn xướng bao gồm cả múa và hát. Bả là bạn, Trạo là chèo, nên ngư dân gọi là “hát bạn chèo”. Và kiểu hát thờ cúng này được trình diễn tại lăng Ông nên còn được gọi là hát lăng. Thông thường, hát Bả Trạo được trình diễn ở hai lễ là chánh lễ lễ tế cô hồn. Đội hình hát Bả Trạo được sắp xếp theo hình chiếc thuyền với tâm thế chuyền thuyền linh đưa hồn cá Ông về nơi cực lạc. Nội dung ngôn từ của hát Bả Trạo nhằm ca ngợi công đức cá Ông, xót thương người đã quá cố, lời hát thấm đượm màu sắc bi ai nhưng không chút sầu muộn hay bi luỵ.

Có thể nói, với tín ngưỡng thờ cá Ông là được đông đảo ngư tham gia nhất. Cá Ông là vị thần chung của các ngư dân, vì thế các vạn chài đã có sự kết nghĩa giao lưu đãi nhau. Thờ cá Ông ở cộng đồng ngư dân biển nơi đây không chỉ đơn thuần là sự thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, thể hiện tâm thức tôn giáo mà còn biểu hiện thế ứng xử, tính thích nghi của ngư dân với hệ sinh thái biển và với cộng đồng của mình trong suốt quá trình lịch sử mưu sinh. Thực hành các lễ hội thờ cá Ông đã hàm chứa đầy đủ, sâu sắc các giá trị văn hóa tinh thần và xã hội với ý nghĩa nhân văn của cộng đồng ngư dân biển Bình Hải nói riêng và Quảng Nam nói chung.

Tóm lại, có thể nói rằng, hệ sinh thái vùng biển từ lâu đã chi phối và ít nhiều quy định đời sống xã hội và văn hóa của ngư dân. Việc tổ chức đánh bắt xa bờ và gần bờ, cùng với hoạt động thủ công, buôn bán, trồng trọt ven biển và gần bờ, từ xưa đến nay đã nảy sinh trong cộng đồng ngư dân ven biển Quảng Nam một bản sắc văn hóa kết hợp và một cấu trúc xã hội rất đặc thù. Ngày nay, những đặc điểm xã hội và văn hóa của cộng đồng ngư dân này đang chịu tác động và biến đổi bởi rất nhiều nhân tố, chủ quan và khách quan của con người trong và ngoài cộng đồng ngư dân. Các đặc điểm xã hội và văn hóa mới hình thành, ắt sẽ có điểm tích cực và chưa tích cực cho sự phát triển bền vững của cộng đồng ngư dân ven biển miền Trung nói chung và Bình Hải nói riêng, rất cần được nhận diện sáng rõ./.

Thông tin bản quyền: Ủy ban nhân dân xã Bình Hải
Địa chỉ: Thôn Hiệp Hưng, xã Bình Hải, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Điện thoại: 0979204547 – 01644028126 – 01659870062
Email: binhhai.thangbinh@quangnam.gov.vn
Đơn vị quản lý Website: Ủy ban nhân dân xã Bình Hải
Thiết kế bởi Trung tâm Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông Quảng Nam

Thống kê truy cập